Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng, khái niệm này cũng chưa kê đầy đủ các lãnh hải thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam
Hơn thế nữa, quy định về “bờ cõi thương chính” là quy định mà hầu hết các nước đều chọn lọc để hợp nhất về quản lý thương chính của mình. Trong điều kiện hội nhập kinh tế của nước ta, nội dung quy định này nhằm khẳng định quyền chủ quyền của quốc gia ta về hải quan tại những khu vực như trên là cấp thiết.
Thu Trang. Ảnh: Thịnh Hưng Làm rõ khái niệm cương vực hải quan Về quan điểm của đại biểu Quốc hội yêu cầu cân nhắc nội hàm và sự cần thiết của việc giải thích khái niệm “bờ cõi hải quan”, bởi khái niệm bờ cõi hải quan chỉ được quy định tại Điều 2 (phạm vi điều chỉnh) và giải thích tại Điều 4; một số điều khác có quy định liên can đến bờ cõi hải quan nhưng không bao hàm khái niệm “bờ cõi hải quan” (Điều 7, Điều 9).
Nên chi, Bộ Tài chính cũng đề nghị được giữ như Dự thảo. Theo Luật biên thuỳ nhà nước thì biên thuỳ nhà nước trên biển là ranh giới phía ngoài lãnh hải; Luật Biển Việt Nam quy định lĩnh vực hải quan là một trong những lĩnh vực mà nhà nước thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Do đó, xin được giữ như Dự thảo. Hơn nữa, trong Luật cũng đã có khái niệm địa bàn hoạt động hải quan (Điều 7) với các quy định khá rõ phạm vi hoạt động, quyền hạn, bổn phận của lực lượng hải quan Giải trình vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định của Luật Biển Việt Nam thì lãnh hải Việt Nam bao gồm nội thủy, vùng biển, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm đất liền thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
Lực lượng Hải đội 1 văn bằng, kiểm soát trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc.
Quy định này không làm thay đổi địa bàn hoạt động thương chính quy định trong Dự thảo Luật. Bên cạnh đó, quy định này còn là căn cứ pháp lý để thương lượng các vấn đề có liên can đến hải quan nhất là các khu vực mẫn cảm, chồng lấn với các nước đối tác và làm căn cứ để các cơ quan khác của quốc gia xử lý các vấn đề có liên hệ đến thương chính tại các khu vực không có địa bàn hoạt động hải quan hoặc các khu vực nằm ngoài bờ cõi quốc gia.
Do đó, Bộ Tài chính yêu cầu được giữ như Dự thảo. Khoản 2 Điều 93 Dự thảo Luật chỉ quy định về thẩm quyền truy đuổi, dừng công cụ chuyển vận; còn phạm vi hoạt động trên biển của cơ quan hải quan thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Dự thảo nên các quy định này không mâu thuẫn.
Về việc truy đuổi trên biển (Khoản 2 Điều 93), có quan điểm đại biểu cho rằng quy định tại khoản 4 Điều 91 thẩm quyền kiểm soát của cơ quan hải quan tại vùng tiếp giáp hải phận là không khả thi và chồng chéo với các lực lượng khác trên biển như Cảnh sát biển, Biên phòng, Hải quân; quy định tại khoản 2 Điều 93 về việc Hải đội kiểm soát trên biển được dừng, truy đuổi dụng cụ chuyển vận nước ngoài trên vùng tiếp giáp hải phận, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là chưa thích hợp với Luật Biển Việt Nam và mâu thuẫn với khoản 4 Điều 91 Dự thảo Phân tích vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Biển Việt Nam thì nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp vùng biển nhằm ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm luật pháp về thương chính, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên bờ cõi hoặc trong lãnh hải Việt Nam.
Việc chống chọi nhằm ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm luật pháp hải quan cần phải được thực hành kịp thời, đồng thời cần sự phối hợp đồng bộ của các lực lượng.
Phạm vi bổn phận phòng, chống buôn lậu ý kiến của đại biểu Quốc hội cho rằng quy định lực lượng hải quan tiếp kiến truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật đối với trường hợp này là mâu thuẫn với quy định tại khoản 2 Điều 91, theo đó ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan thương chính có nghĩa vụ phối hợp hoặc chủ động phối hợp với các cơ quan nhà nước sở quan thực hành các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận tải trái phép hàng hóa qua biên cương.
Song song khoản 1 Điều 47 Luật Biển Việt Nam cũng quy định "lực lượng bằng, kiểm soát trên biển bao gồm các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an dân chúng, các lực lượng văn bằng, kiểm soát chuyên ngành khác".
Dự thảo cũng đã quy định khi cơ quan thương chính tiến hành truy đuổi thì song song thông tin cho cơ quan chức năng (Công an, Quản lý thị trường,…) trên địa bàn biết để phối hợp ngăn chặn, xử lý là đảm bảo hợp nhất với quy định tại khoản 2 Điều 91 Dự thảo.
Các nội dung mà Bộ Tài chính tiếp nhận, chính lý quan điểm của UBTVQH bao gồm: Địa bàn hoạt động hải quan (Điều 7), Giám sát thi hành pháp luật (Điều 11), Hệ thống tổ chức hải quan (Điều 14), Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ thương chính (Điều 17), việc ứng dụng cơ chế một cửa quốc gia (Điều 25, Điều 35), rà sau thông quan (Điều 79), ứng dụng một số biện pháp nghiệp vụ của lực lượng hải quan để phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại (Điều 91, 92, 93) Có 6 nội dung mà Bộ Tài chính giải trình, đó là: Khái niệm cương vực hải quan (Điều 4), nhiệm vụ của hải quan (Điều 12), hồ sơ thương chính, (Điều 24) xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá thương chính (Điều 28), trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại cửa khẩu (Điều 35 và Điều 67), khuôn khổ bổn phận phòng, chống buôn lậu, tải trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 91, 93).
Giảng giải vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, qua thực tiễn hoạt động phòng, chống buôn lậu, tải trái phép hàng hóa qua biên thuỳ của cơ quan hải quan cho thấy, hoạt động buôn lậu, chuyển vận trái phép qua biên cương ngày càng được các đối tượng thực hành bằng nhiều biện pháp, mánh lới tinh vi, phức tạp. Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 48 Luật Biển Việt Nam cũng quy định: phạm vi trách nhiệm cụ thể của các lực lượng văn bằng, kiểm soát trên biển thực hành theo quy định của luật pháp.
Tỉ dụ: Luật hải quan Pháp, Luật thương chính Indonesia. Tại những nơi đó Luật thương chính được vận dụng để điều chỉnh những vấn đề có liên hệ đến thương chính. Khái niệm này được kế thừa quy định của Luật hiện hành. Khái niệm “cương vực hải quan” quy định tại Khoản 25 Điều 4 Dự thảo Luật hải quan (sửa đổi) là khuôn khổ không gian mà Luật thương chính có hiệu lực áp dụng, theo đó ngoài các khu vực trong bờ cõi nhà nước còn có những khu vực thuộc quyền tài phán nằm ngoài bờ cõi nhà nước như vùng đặc quyền kinh tế, thềm đất liền của Việt Nam.
Bởi thế, để nâng cao hơn nữa bổn phận của cơ quan hải quan trong thực hiện nhiệm vụ buồng buôn lậu, vận tải hàng hóa qua biên giới, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật thương chính, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này cần giao trách nhiệm chủ trì xử lý cho cơ quan hải quan đối với trường hợp cụ thể này.
Do đó, khoản 4 Điều 91 Dự thảo luật quy định cụ thể bổn phận của cơ quan hải quan trong việc phẳng, kiểm soát trên biển tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp vùng biển là cấp thiết và phù hợp với các quy định nêu trên, góp phần cùng với các lực lượng khác ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan xảy ra trên cùng biển, đảm bảo an ninh quốc gia và an ninh kinh tế.
Và việc truy đuổi tàu bè nước ngoài được quy định tại Điều 41 của Luật Biển Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét